Xây dựng thương hiệu quốc gia từ nội lực văn hóa: Nhân lực và những giấc mơ dài của Điện ảnh Việt
Nghị quyết 80-NQ/TW còn đặt ra mục tiêu đến năm 2030 phải hình thành được từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực chủ lực như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế thời trang, du lịch, văn hóa...
Nếu những ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa tiêu dùng hướng tới xuất khẩu sản phẩm, thì với công nghiệp văn hóa, chúng ta sẽ xuất khẩu “câu chuyện Việt”, “phong cách Việt”, “giấc mơ Việt”, “sắc màu Việt”... Để những giấc mơ ấy bước ra thế giới, vừa đạt chuẩn quốc tế, vừa mang nét riêng biệt không thể trộn lẫn, chúng ta cần những thước đo, tiêu chí xét chọn Thương hiệu quốc gia với riêng từng lĩnh vực văn hóa.
Và, để những ngành công nghiệp văn hóa đang gánh trên vai sứ mệnh lớn, kỳ vọng lớn như điện ảnh, thời trang, du lịch văn hóa... đạt thương hiệu quốc gia, ngoài bộ tiêu chí xét chọn, còn cần góc nhìn trực diện vào những điểm yếu sớm được đầu tư, khắc phục.
Điện ảnh và câu chuyện đào tạo nhân lực
Trong chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai các Nghị quyết 79, 80 của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư nhấn mạnh việc các ngành công nghiệp văn hóa (trong đó có Điện ảnh) đang thiếu nhân lực trầm trọng, đặc biệt thiếu nhân lực chất lượng cao.
Điện ảnh Việt năm 2025 đã có những bứt phá vượt bậc, được ví như “cú bẻ lái nghìn tỉ” mang đến doanh thu phim Việt ở mức 3.650 tỉ đồng, gần gấp đôi năm 2024 (với 1.900 tỉ đồng). Tuy nhiên, với tiềm năng doanh thu như vậy, mức đầu tư cho điện ảnh hiện còn rất hạn chế.
Nhân lực vẫn là điểm yếu lớn của ngành Điện ảnh khi thực hiện công nghiệp hóa. Số lượng phim và chất lượng phim ra rạp hằng năm vẫn thua xa các ngành công nghiệp điện ảnh trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc.
Trao đổi với phóng viên Báo Lao Động về công tác đào tạo nhân lực cho ngành điện ảnh, Hiệu trưởng Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội - Tiến sĩ Bùi Như Lai cho biết: “Nếu như các trường đại học khác được tuyển sinh hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn sinh viên mỗi năm, Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội chỉ tuyển vài trăm sinh viên cho tất cả các ngành. Trong đó, mỗi lớp đạo diễn khoảng 15 - 20 sinh viên, lớp diễn viên 15 - 20 sinh viên, lớp biên kịch cũng vậy. Đặc biệt, có những lớp về Tuồng, hàng mấy chục năm nay không tuyển sinh được ai, vì không ai đăng ký học”.
Khi được hỏi về số lượng 15 - 20 sinh viên mỗi lớp đạo diễn, diễn viên khi thị trường đang cần rất nhiều, TS. Bùi Như Lai lý giải: “Vì đặc thù giảng dạy của chúng tôi không thể dạy nhiều hơn. Lớp chật. Cơ sở vật chất của nhà trường cũng có hạn. Ví dụ ở lớp quay phim, chúng tôi thiếu những thiết bị quay hiện đại, vì rất đắt đỏ. Máy quay dùng trong giảng dạy đều đã được mua từ mấy chục năm trước, trong khi tốc độ phát triển khoa học công nghệ đã diễn ra chóng mặt.
Chúng tôi cũng từng mơ ước có được một chiếc xe màu với rất nhiều màn hình trên đó, để một sinh viên khoa Đạo diễn có thể hình dung ra công việc của một đạo diễn truyền hình như thế nào, họ có thể xem được nhiều góc quay khác nhau ra sao. Thế nhưng, giá của một xe màu như thế lên đến 70 - 80 tỉ đồng. Nên giấc mơ chỉ dừng lại là... giấc mơ”.
Trước câu hỏi: “Vậy có thể hiểu, do giá cả của các thiết bị quay phim, xe màu đắt đỏ nên trường chỉ đào tạo... chay?”, TS. Bùi Như Lai thông tin: “Nhà trường vẫn nỗ lực tìm các nguồn thu để thuê mướn thiết bị trong thời gian ngắn giúp sinh viên được... tiếp xúc. Trường cũng liên kết với các đài truyền hình, các đoàn phim để gửi sinh viên đến đó... ngắm nhìn, tham quan, thực tập, học hỏi”.
Theo TS. Bùi Như Lai, các trường đại học khác với số lượng sinh viên đông có thể có được nguồn thu lớn từ học phí. Nhưng, với Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội - nơi đào tạo chuyên nghiệp và lớn nhất về nhân lực cho ngành điện ảnh - với số sinh viên ít ỏi, thường gặp nhiều khó khăn trong kinh phí đào tạo. Lương giảng viên thấp, điều kiện giảng dạy hạn chế.
“Mỗi khóa đạo diễn có khoảng 60 sinh viên chia thành 3 lớp. Trong quá trình đào tạo, nhiều em không theo nổi, nên khi ra trường còn khoảng 40 - 50 sinh viên. Với số lượng 50 đạo diễn, 50 diễn viên ra trường, thường sẽ có việc làm luôn. Thậm chí, sinh viên Đại học Sân khấu Điện ảnh có thể đi làm từ năm thứ 2. Nên tôi có thể tự hào, tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội chắc chắn rất thấp so với các ngành nghề khác”, TS. Bùi Như Lai nói.
TS. Bùi Như Lai kỳ vọng, với Nghị quyết 80-NQ/TW khi công nghiệp văn hóa được quan tâm và đầu tư hơn bao giờ hết, khi điện ảnh được coi là ngành trọng điểm, công tác giáo dục, đào tạo với lĩnh vực điện ảnh sẽ được quan tâm hơn.
“Để phát triển nguồn nhân lực, chẳng có cách nào khác là phải đầu tư. Đầu tư cho thiết bị giảng dạy, cho giáo viên. Ví dụ, chúng tôi rất muốn mời các chuyên gia nước ngoài về giảng dạy cho sinh viên, việc này cần kinh phí. Hay, chúng tôi có kế hoạch xây dựng một trường quay nội ở trong trường, kế hoạch này đã có cách đây 20 - 30 năm, nhưng không thể thực hiện”, TS. Bùi Như Lai chia sẻ.
Hiệu trưởng Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội mong muốn, nếu công tác giáo dục đào tạo cho ngành điện ảnh được đầu tư nhiều hơn, ông sẽ có rất nhiều điều để chia sẻ cùng Bộ Giáo dục, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch để tháo gỡ.
Trường quay và giấc mơ dang dở
Trường quay từ lâu cũng là giấc mơ của nhiều nhà làm phim. Đạo diễn, NSND Khải Hưng từng chia sẻ, ông đã đi nhiều quốc gia - nơi có ngành công nghiệp điện ảnh phát triển, ở đâu cũng có những trường quay khổng lồ, được đầu tư lớn.
“Hàn Quốc có thể thu tiền từ các dịch vụ du lịch ở những trường quay nổi tiếng. Sau khi bộ phim đạt được hiệu ứng, trường quay sẽ lập tức trở thành điểm đến thu hút khán giả. Trung Quốc có Hoành Điếm, vừa là trường quay khổng lồ, vừa thu hút du lịch. Họ đã khai thác rất hiệu quả, trong khi với chúng ta, trường quay vẫn là bài toán chưa thể có lời giải” - NSND Khải Hưng nói.
Trường quay Cổ Loa từng được xây dựng với nhiều kỳ vọng. Thế nhưng, sau khi quay 2 bộ phim mừng đại lễ 1.000 năm Thăng Long là “Thái sư Trần Thủ Độ” và “Huyền sử Thiên Đô”, trường quay này “đắp chiếu” chờ quy hoạch tổng thể.
Nơi đây từng bỏ hoang cho cỏ mọc, sau đó dùng để... trồng bưởi. Nhiều đề án trăm tỉ về xây dựng trường quay Cổ Loa từng được đề đạt lên, nhưng đến nay vẫn chỉ nằm trên giấy.
Bên cạnh đó, những khác biệt trong cách sản xuất, phát hành giữa phim Nhà nước và phim tư nhân tiếp tục được bàn luận. Xã hội hóa nguồn vốn, huy động doanh nghiệp lớn, nâng cấp hạ tầng công nghệ cho điện ảnh vẫn là giấc mơ được kỳ vọng hiện thực hóa, tạo “cú bẻ lái” cho phim Việt đến năm 2030.